|
Nỗi đau vẫn ngậm ngùi “Thời gian tựa cánh chim bay, qua dần những
tháng cùng ngày. C̣n đâu mùa cũ
êm vui…” Mỗi khi nghe Sĩ Phú hát bài Hoài Cảm, ḷng tôi lại
nao nao niềm thương tiếc và nếu nghe vào Tháng
Tư th́ nỗi buồn mất mát trong tôi càng dâng cao v́ nhớ
tới những ngày sau cùng của Tháng Tư Đen năm
1975 trước khi miền Nam Việt Nam Tự Do của
chúng ta sụp đổ! Tôi thấy ǵ những ngày Sài G̣n hấp hối? Giờ đây, gần bốn mươi sáu
năm đi qua, nhưng kư ức tôi vẫn c̣n nhớ
như in khoảng thời gian ly loạn ấy. Cũng chính ngày này, ngày 8 Tháng Tư năm
đó, trong khi tôi và các bạn học của ḿnh đang thi
Đệ Nhị Lục Cá Nguyệt ở Trường
Lasan Taberd th́ bất ngờ nhiều tiếng nổ như
bom phát ra làm rung chuyển kính cửa sổ
xung quanh. Tiếng bom tuy không làm bể kính
nhưng làm vỡ không gian thi cử đang yên ắng.
Gương mặt thầy cô, các vị giám khảo
đang trông coi thi, chợt trở nên căng thẳng, lo lắng.
C̣n bọn học tṛ chúng tôi th́ la hét sợ hăi… Không gian chợt đóng băng, thời gian
như ngừng lại, măi cho đến khi bóng dáng Frère
Martial; Giám Học Khối Lớp 8 và 9, xuất hiện
ngoài hành lang. Ông đi tất tả chứ không khoan thai nhẹ
nhàng như mọi ngày. Những thầy cô từ
các lớp bước ra, sau một hồi thầm th́, họ
trở vào và cho hay buổi thi tạm ngừng và chúng tôi
được lệnh vào thính đường ẩn nấp.
Bấy giờ th́ chúng tôi biết Dinh Độc
Lập; cách trường tôi hai con đường, vừa
bị đánh bom. Sau này chúng tôi mới biết kẻ
dội bom ngày đó là Nguyễn Thành Trung; trung úy không quân phản
bội của Việt Nam Cộng Ḥa (VNCH)! Taberd là ngôi trường do Linh Mục Kerlan thuộc
Hội Truyền Giáo Công Giáo của Pháp lập nên năm
1873 tại Sài G̣n dưới thời Pháp thuộc,
được gọi theo tên của Giám Mục địa
phận Nam Kỳ từ 1830 tới 1840 là Jean Louis Taberd. Sau
này có thêm các sư huynh Ḍng Lasan từ Marseille qua giúp đỡ
giáo dục cho nên trường được xây dựng rất
kiên cố và vững chắc theo lối kiến trúc tu viện
cổ điển Châu Âu “ngoài kín trong rỗng,” với nhiều
dăy pḥng học nối liền nhau bằng các hành lang. Riêng
thính đường Taberd được xây sau này nằm gần
cổng sau của trường trên đường Gia Long
nên c̣n được gọi là Cổng Gia Long, để
phân biệt với Cổng Nguyễn Du là cổng chính phía
trước, tọa lạc tại số 53 Nguyễn Du,
theo lối kiến trúc tân tiến hơn. Đó là một
thính đường rất lớn, kiên cố, có hai lầu,
với nhiều cửa sổ to, cao, chạy từ trên xuống
dưới để lấy ánh sáng từ bên ngoài vào, cùng
hàng trăm ghế ngồi thoai thoải từ cao tới thấp
trước khi đến một cái sân khấu thật rộng. Chẳng bao lâu sau, tất cả bọn học
tṛ được các sư huynh đưa vào nơi ấy
và chờ đợi lệnh bề trên! Đến
trưa th́ được phép ra về. Cả
đám ùa ra như ong vỡ tổ, mừng rỡ la hét.
Có những đứa nhảy cẫng lên, ḥ reo vui vẻ v́
“được khỏi thi,” nhưng chúng tôi có ngờ
đâu rằng đó là thời khắc êm đềm hạnh
phúc sau cùng của đời học sinh mà chúng tôi măi sẽ
không bao giờ c̣n t́m lại được dưới mái trường
thân yêu này! Bên ngoài xe hơi, xe gắn máy xếp hàng dày đặc,
lẫn lộn trong đó người ta thấy có cả những
chiếc xe Jeep quân đội với các chú tài xế trong
quân phục thẳng tắp đứng lố nhố, v́
Taberd có rất nhiều con tướng tá theo học, chẳng
hạn như lớp tôi có ba bạn là con của những vị
tướng PXC, LNK, ĐVQ… Trong khi ấy th́ phụ huynh lại
chen chúc, nhốn nháo t́m kiếm. Tiếng
người la hét, réo gọi inh ỏi khắp
nơi! Trên đường về, ngồi sau lưng ba
tôi trên chiếc Honda 67 màu đen, tôi nh́n phố phường. Quang cảnh có vẻ khác ngày
thường. Mọi người chạy
ngược chạy xuôi đến độ tôi có thể
đọc được nỗi sợ hăi trong ánh mắt
của họ trước t́nh h́nh sôi động của thời
cuộc. Khi chúng tôi đến Lăng Ông Lê Văn Duyệt,
ba tôi lật đật tắp xe vào lề, nhường chỗ
cho chiếc quân xa GMC chở đầy lính gầm rú phía
sau, chạy nhanh về hướng G̣ Vấp. Nh́n những
người lính mặt c̣n non nớt như tân binh mới
ra trường đầy căng thẳng với súng ống
trên vai, tôi linh cảm nhiều sự chẳng lành. Thời gian sau đó, không c̣n tới trường
nên ngày tối tôi chỉ ở loanh quanh trong nhà và rất vui
khi mỗi sáng được má tôi sai ra Ngă Năm B́nh Ḥa mua
báo về cho bà xem tin h́nh chiến sự. Đó
là cơ hội cho tôi “sổ lồng.” Tại sạp
báo, nh́n h́nh ảnh chiến tranh ngoài Trung, tin tức chiến
trường dồn dập đưa về, với những
cuộc tháo chạy, mất tỉnh này, rút lui vô trật tự
ở tỉnh kia của binh sĩ VNCH, cảnh đồng
bào mặt mày phờ phạc, đàn đúm di tản, dắt
díu người già cả hay bị thương đầu
băng tay bó, gồng gánh trẻ thơ lủng lẳng
trong những chiếc thúng, lỉnh kỉnh mang vác đủ
thứ như xe đạp, xe gắn máy hết xăng, chó
mèo, gà vịt tới cả trâu ḅ lếch thếch trên các quốc
lộ trong hỗn loạn… Tất cả bày trên trang nhất
mấy tờ Tin Sáng, Chính Luận, Tiền Tuyến…, làm tôi
hoang mang, hoa cả mắt chẳng biết phải mua báo nào? Đứng ở đây tôi cũng thấy nhiều
lô cốt với hàng rào kẽm gai khắp nơi. Người lính với đôi giày lấm bụi
đường trận mạc, súng trường lưỡi
lê lăm lăm, đang tra xét xe đ̣, xe lam chở đồ
hàng bông từ Hóc Môn, G̣ Vấp đổ vô Sài G̣n, nhằm
ngăn chặn đặc công Việt Cộng trà trộn về
thành phá hoại. Và lúc tôi mang báo về, mỗi khi đọc
xong là má tôi lại lắc đầu, thở ngắn than
dài, miệng lâm râm cầu nguyện Trời Phật! Đôi
khi bà kêu tôi chạy ra tiệm tạp hóa của Bà Sáu Nhân
ngoài Chợ Ngă Năm mua thêm đường, muối và cả
bao gạo chỉ xanh năm mươi kư để pḥng hờ
đói kém. Mặc dù t́nh h́nh ngày càng bi đát,
Việt Cộng tấn công khắp nơi nhưng vẫn
c̣n một số người không tin Mỹ bỏ rơi miền
Nam Việt Nam. Họ nghĩ Mỹ sẽ
trở lại, lập cầu không vận. Việt Nam
là tiền đồn chống cộng của thế giới
tự do, là nơi Mỹ đă đổ vô số tiền
của vào, là nơi hàng mấy mươi ngàn binh lính Mỹ
đă thiệt mạng. Người ta tin Mỹ sẽ dội
bom miền Bắc để giải cứu VNCH, ǵn giữ
uy thế một cường quốc. Cho đến đêm
21 Tháng Tư, 1975 lúc ông Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu
lên tivi trách móc dữ dội, chửi bới Mỹ phản
bội, bỏ rơi đồng minh…, trước khi tuyên
bố từ chức, th́ dân chúng bắt đầu hốt
hoảng… Mấy ngày sau, cộng quân áp sát thủ đô. Tiếng
súng đạn thỉnh thoảng nổ lẻ tẻ vang.
Đêm đêm đại bác đ́ đùng dội về thành
phố hoặc một tiếng nổ nhỏ chợt phát
ra và một trái hỏa châu vụt sáng tại một góc trời…,
khiến dân chúng càng nháo nhào loạn xạ. Đang khi ấy
tại Sài G̣n, trong một chiều mưa tầm tă, che mờ
cả Vương Cung Thánh Đường th́ ở Dinh
Độc Lập, ông Tổng Thống “một tuần” Trần
Văn Hương bị Quốc Hội áp lực trao quyền
tổng thống lại cho Đại Tướng Dương
Văn Minh. Tân Sơn Nhất bị quân Cộng Sản pháo
kích nhằm gia tăng áp lực lên chính quyền Sài G̣n. Không khí chết chóc tràn ngập mọi ngă
đường. Tôi nghe tiếng trực thăng xành xạch trên
trời, nh́n lên thấy những chiếc HU-1 liên tục từ
ngoài biển bay vào bốc người Mỹ và nhân viên bản
xứ làm việc cho họ ngay tại Ṭa Đại Sứ
Mỹ và một số địa điểm bí mật
quanh thành phố, trông như đám chuồn chuồn bị
động ổ bay đầy đồng. Dưới
đất, dân chúng ùn ùn chạy ra bến Bạch Đằng
hay Tân Cảng để t́m đường ra biển,
như kiến túa khỏi hang. Có chứng kiến cảnh
người ta bỏ cả gia tài, sản nghiệp, mồ
mả ông bà tổ tiên để lánh nạn trước
khúc quanh lịch sử mà chẳng cần biết
tương lai ra sao – như chú Bảy của tôi, nhân viên DAO
(Defense Attache Office), người đă vội vàng bỏ
căn nhà mặt tiền đường vừa mua gần
Chợ Thị Nghè và hối hả dẫn vợ dại con
thơ vào phi trường Tân Sơn Nhất – mới hiểu
sự sợ hăi hiểm họa Cộng Sản là như thế
nào! Tuy vậy, bên cạnh Sài G̣n trong cơn hấp hối,
vẫn có những cấp chỉ huy anh hùng, các chiến
sĩ dũng cảm chiến đấu đến giờ
phút sau cùng. Họ
là những người đền nợ nước một
cách oanh liệt chớ không ươn hèn bỏ chạy mà
tôi đă có dịp chứng kiến và viết lại trong
câu chuyện những người chết sau cùng trong cuộc
chiến vào dịp 30 Tháng Tư hơn mười năm
trước. Rồi khoảng trưa ngày 30 Tháng Tư
oan nghiệt, khi tiếng ông Minh ra lệnh “đầu hàng
vô điều kiện” vang lên trên Đài Truyền Thanh, tôi
có cảm giác như đất trời sụp đổ. Những tháng ngày sau đó mới thật là ghê rợn. Những sĩ quan VNCH bị gọi là “ngụy”;
viên chức cảnh sát cũ bị “Cách mạng” xem là “thành
phần ác ôn, có nợ máu với nhân dân.” Họ
sống trong phập phồng lo sợ. Họ sợ
Việt Cộng nằm vùng, sợ đám “Ba Mươi” là
những thanh niên, thiếu nữ c̣n rất trẻ hăng
hái “xung phong” với băng đỏ trên tay hầu chứng
tỏ là người nhiệt tâm với chế độ
mới, sợ những nam nữ du kích trong “bưng” về
thành với khăn rằn quanh cổ, đồ bà ba
đen, nón tai bèo, chân đi dép râu, súng AK47 lạnh lùng trên
tay, đêm đêm luồn vào từng con hẻm như thợ
săn ŕnh mồi. Tiếng chó sủa trong đêm như tiếng
hú của sói rừng, của tử thần réo gọi! Và theo lệnh “Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời,”
các sĩ quan cấp úy, cấp tá, viên chức cao cấp VNCH
phải tŕnh diện để đi “học tập.” Kẻ th́ dăm ba năm, người th́ chục
năm hơn và có những người vĩnh viễn không
bao giờ trở về. Rồi những màn “bài trừ
văn hóa phẩm đồi trụy,” rồi đánh
“tư sản mại bản,” ép buộc người ta
đi “kinh tế mới”… Quả lựu đạn trong trường
Taberd sau ngày “giải phóng” Trong bầu không khí đầy sợ hăi ấy,
bọn tôi nhập học trở lại muộn hơn mọi
năm. Ngày đầu tiên,
tôi nôn nóng đến trường, phần nhớ lớp,
phần khác muốn t́m xem bạn bè ai c̣n ai mất. Đa số bạn có cha mẹ là sĩ quan cao cấp
hay ông to bà lớn đều đă di tản nước ngoài.
Niên học đầu tiên dưới thời
Xă Hội Chủ Nghĩa thật khác lạ. Các “frères” không c̣n mặc áo ḍng và uy nghiêm như ngày
xưa. Các cô giáo điệu đà, má phấn môi son,
xinh xắn trong những chiếc áo đầm hoặc dịu
dàng trong tà áo dài thướt tha hôm nào th́ nay chỉ mặc
chiếc quần tây sậm với sơ mi hoặc áo kiểu
đơn sơ. Mấy thầy cũng vậy, không c̣n
veston với cravate cùng giày tây nữa, mà chỉ áo sơ mi
đơn giản với quần tây cũ kỹ. Thậm
chí có người mang cả dép râu! Và từ thầy cô đến
học sinh, tất cả đều đi xe
đạp. Hiệu trưởng lúc đó là một cán bộ
miền Bắc bị cụt một tay. Một hôm vào giờ ra chơi, trong lúc đứng
dưới chân cầu thang gần lớp ở Sân Danh Dự,
tôi bỗng thấy mọi người la hoảng và túa chạy. Khói xanh bốc lên ngùn ngụt ở
dăy pḥng ngang đối diện cổng chính, nơi có đặt
văn pḥng Ban Giám Hiệu. Ít phút sau, nhiều
thầy cô trong đó cũng lật đật đi ra.
Tôi thấy ông hiệu trưởng xách chiếc
cặp đen vừa che mũi vừa chạy. Ống
tay áo dài bên kia phất phơ trong gió. Đám học sinh từ sân bóng rổ ṭ ṃ chạy
lên xem th́ bị ông hiệu trưởng quát tháo, dùng cặp
múa vùn vụt đuổi xuống. Cả trường
náo loạn! Sau cùng th́ tất cả mới biết
có một học sinh nào đó ném lựu đạn cay gần
pḥng Ban Giám Hiệu. Buổi học chấm dứt nhưng mọi
người vẫn phải ở yên trong trường. Không lâu sau, một số cán bộ và rất nhiều
công an kéo tới. Một thanh niên đeo
kính cận, mặc quần bộ đội với áo
sơ mi dài tay màu xanh cứt ngựa, tay cầm xấp giấy
cuộn tṛn, tuổi độ ngoài hai mươi trông rất
trí thức mà tôi đoán chừng là thành phần sinh viên biểu
t́nh phản đối chính quyền Sài G̣n hồi trước,
đi vào lớp với một số công an. Thầy tôi, Frère Félicien Huỳnh Công Lương,
cựu hiệu trưởng của trường, vội
lùi lại nhường chỗ cho họ. Anh ta kêu gọi chúng tôi chỉ ra ai là người
ném lựu đạn nếu biết. Cả lớp im lặng.
Không thấy ai trả lời, anh ta bắt đầu huyên
thuyên về cách mạng, về sự đấu tranh của
phong trào học sinh-sinh viên, sự hy sinh của tuổi trẻ
trong sự nghiệp “chống Mỹ cứu nước thần
thánh của nhân dân”… Ban đầu giọng anh c̣n từ tốn
nhưng càng nói anh càng hăng và cao giọng quát lớn:
“Đúng ra th́ chúng tôi đă đuổi các anh ra khỏi
trường này lâu rồi v́ trường này là trường
do bọn thực dân, đế quốc dựng nên, chuyên
đào tạo ngụy quyền phản động, tướng
tá ác ôn, tay sai nguy hiểm, măi quốc cầu vinh. Nhưng
người cách mạng chúng tôi đă khoan hồng cho các
anh, để các anh tiếp tục học ở đây thế
mà các anh không biết ơn lại c̣n muốn làm loạn, âm
mưu tạo phản… Chúng tôi đố các
anh đấy. Có giỏi th́ cứ lật
đổ cách mạng xem. Hơn một triệu lính
‘ngụy’ với xe tăng, đại pháo, vũ khí hiện
đại, tối tân nhất thế giới mà chúng tôi c̣n
đánh cho chúng cút, bỏ chạy không kịp th́ thứ
đám con nít các anh ‘hỉ mũi chưa sạch, miệng
c̣n hôi sữa’ th́ làm được cái quái ǵ mà cũng bày
đặt”… Tất cả ngồi im. Lớp học lặng yên như tờ. Tôi liếc
nh́n Frère Félicien, thấy mặt ông biến sắc, tái nhợt,
môi hơi mím lại trước sự lên án
nặng nề của tay cán bộ. Có lẽ
Frère cũng cảm thấy nhục và đau ḷng lắm. Một buổi trưa khi đi học về, vừa
đạp xe vô hẻm, tôi thấy bà con
đứng lố nhố quanh giếng nước trước
nhà chú Mười của tôi. Ông chú này là em trai
thứ mười của ông ngoại tôi. Trong nhà ông,
tôi thấy thằng Ánh; công an khu vực, Hai Bảnh;
Ủy Viên Văn Hóa Thông Tin phường, cùng một số
nhân viên khác, đang lui cui kéo chiếc xe Volkswagen ra khỏi
nhà. Chiếc xe hơi này là của d́ Hai
tôi; nguyên giáo sư dạy Pháp Văn ở Trường Quốc
Gia Nghĩa Tử. Chồng d́ là trung úy phi công tử trận.
Mấy năm trước d́ được Tổng Thống
Thiệu mời vô Dinh Độc Lập, khi trường
nhận được một số học bổng của
Thụy Sĩ và d́ là người được giao trách
nhiệm đưa số học sinh này sang đó. Theo lệnh Ủy Ban Quân Quản Thành Phố Sài
G̣n-Gia Định, nhà nước sẽ tịch biên tất
cả tài sản của những người bỏ nước
ra đi. Để giữ lại chiếc xe, ông chú tôi đă gỡ vài bộ phận khiến
máy không nổ được; và để chắc chắn
hơn, ông tháo bốn bánh xe mang đi giấu. Hôm nay đến
ngày hẹn, ông lánh mặt, để chiếc xe nằm chơ vơ ngoài sân. Thế là bọn
chính quyền đi t́m bốn bánh xe cùng
loại tới lắp vào và kéo đi! Kư ức chưa phai Đến hết niên học Lớp 10, năm
1976, Taberd bị giải thể. Trường chúng tôi bị lấy
và trở thành Trường Trần Đại Nghĩa cho tới
ngày hôm nay. Ḍng đời lặng lẽ trôi dưới
chính sách khắc nghiệt và sự cai trị
độc ác của chế độ. Dân
chúng âm thầm t́m đường bỏ nước ra
đi. Sau gần sáu năm tù trong các trại cưỡng
bức lao động v́ vượt biên
thất bại th́ lần thứ hai mươi, tôi đến
được Trại Tị Nạn Palawan-Philippines. Tuy nhiên, v́ tới sau ngày “đóng cửa đảo”
nên tôi phải qua tiến tŕnh “thanh lọc Tị Nạn.” Kết quả, tôi bị kẹt lại đó gần
mười một năm do “rớt thanh lọc.” Sau cùng nhờ
sự giúp đỡ của TS Nguyễn Đ́nh Thắng,
giám đốc Tổ Chức BPSOS (Boat People SOS), Luật
Sư Trịnh Hội, Ḥa Thượng Thích Giác Lượng
cùng nhiều ân nhân khác, tôi đến được Hoa Kỳ
vào Tháng Bảy, 1999. Năm 2010, một nhóm bạn “niên khóa 78” của
Taberd có tổ chức Hội Ngộ ở Nam California sau mấy
mươi năm cách biệt. Nhân dịp này, bạn bè biết
thêm là người học sinh liệng lựu đạn
ngày xưa là bạn đồng khóa với chúng tôi. Bị một
thằng bạn chỉ điểm cho Công An
Sở TP.HCM, anh và người em trai kế bị bắt
đi cải tạo. Lúc được thả
về th́ gia đ́nh lo cho anh ta vượt biên. Hiện
anh định cư tại Thụy Sĩ. Riêng người
điềm chỉ cùng gia đ́nh anh này lại được
chính ông Vơ Văn Kiệt khi c̣n là Bí Thư Thành Ủy TP.HCM
đưa đi trong những đợt cho người Hoa
kiều ra đi bán chính thức. Người này đang sống
ở tiểu bang Virginia, Hoa Kỳ. *** Quá khứ đau thương của một dân
tộc được đánh dấu bằng một trang sử
thuyền nhân đẫm lệ, đầy máu và nước
mắt nhưng vô cùng kiêu hănh như cuộn phim cũ
được quay lại, mà con cháu cũng nên biết cho
cái giá phải trả cho tự do! Ngoài kia
nắng xuân của buổi sớm mai lấp lánh, rơi nhẹ
trên các tàng cây, tôi bùi ngùi cảm khái với hồi ức
ngang đời, ḷng th́ thầm “OK, sau cơn mưa trời
lại sáng (Après la pluie le beau temps)”… Ohio, 8 Tháng Tư, 2021 . |