|
Những Điều
Mơ
Ước Có một dạo, đi đâu tôi cũng nghe thiên hạ hát bài Con Chim Đa Đa,"sao không lấy chồng gần mà đi lấy chồng xa.." rồi đến bài Chị Tôi, "thế là chị ơi rụng bông hoa gạo". Đúng như người ta nói, Thơ và Nhạc có ngôn ngữ riêng của nó. Một người không có nhiều chữ nghĩa như tôi, nhiều khi say mê hát một bài hát mà sau đó suy nghĩ măi vẫn không hiểu rơ ngọn ngành, ư nghĩa một vài câu. Trong bài Chị Tôi, tôi cũng rất ư là lờ mờ cái sự kiện.. rụng bông hoa gạo..và trời cho làm thơ.. này lắm. Dù vậy tôi vẫn thấy bản nhạc phổ từ một bài thơ chỉ vỏn vẹn mấy câu này, khá hay. Mà ngay đến cái sự hay này tôi cũng mơ hồ, không biết có đúng là tôi biết thưởng thức thơ nhạc không, hay là chỉ v́ có sự đồng cảm mà tôi thấy ḷng ḿnh xúc động. Bởi v́ mỗi lần nghe ai đó hát bản nhạc Chị Tôi, tôi lại da diết nhớ đến bà Cô Út của tôi. Từ lúc chưa tṛn hai tuổi, tôi lớn
lên trong cái bất hạnh của một người
chưa hề có "bông hồng cài áo". Mẹ
tôi mất quá sớm, đến nổi tôi không bao giờ
h́nh dung được khuôn mặt hiền từ phúc hậu
của bà như lời cha tôi kể lại. Nỗi bất
hạnh đó lại càng lớn hơn,khi tôi không có một
bà chị nào để được dịp nh́n dung nhan Chị
mà mơ tưởng đến bóng h́nh của Mẹ. Ba tôi
th́ đang dạy ở trường Pháp-Việt, bị Việt
Minh đưa ra liên khu năm làm công tác "xóa nạn mù chữ".
Khi lớn lên một chút, bắt đầu nhận hiểu
được đôi ba điều quanh ḿnh, tôi chỉ biết
là hai anh em tôi lớn lên ở nhà ông bà nội, và trong ṿng tay yêu thương cùng giọng hát ru hời của
bà Cô Út.
Cô út tôi lớn hơn tôi
hơn một con giáp. Ở nhà quê nhưng bà có cái tên nghe rất
lạ: Phạm Thị Mẫu Đơn. Cho măi đến
lúc đi học tôi mới biết
được cái tên này, v́ mọi người đều
gọi cô là con Út hay cô Út. Sau này tôi hỏi ba tôi về cái tên
trong giấy tờ của Cô, được ông giải
thích: Sự thực th́ tên trong acte de naissance (khai sanh hồi
thời Pháp thuộc) của Cô út là Pham Thi Mau Dan (Phạm thị
Mậu Dần), nhưng khi Cô tôi lớn lên và có chút nhan sắc,
th́ ông bà nội lại lo cho cái tuổi Dần cao số của
Cô, nên khi có lệnh làm bản thế v́ khai sanh tiếng Việt,
ông bảo ba tôi xuống Huyện, nhờ ông anh họ làm
chánh lục sự, sửa tên cô tôi thành Mẫu Đơn.
Mang tên một loài hoa mà suốt cả một đời cô
tôi không biết đó là loại hoa ǵ, chỉ nghe thiên hạ
bảo loài hoa này đẹp lắm,thế thôi.
Có một
điều chắc chắn là khi cô sinh ra Trời đă
không "cho làm thơ", vậy mà suốt cả một
đời Cô vẫn bị "vấn vương với
sợi tơ trời, t́nh riêng bỏ chợ t́nh người
đa đoan". Mà khổ thay, thằng cháu của Cô cũng
dốt nát, chứ phải có tài năng một chút th́ hôm nay
nó cũng viết một bản nhạc hay chí ít cũng làm
được mấy câu thơ để ca ngợi Cô.
V́ so với người chị trong mấy bản
nhạc Chị Tôi, bà Cô của tôi coi bộ c̣n thánh thiện
và tội nghiệp hơn nhiều lắm. Cô lo lắng
chăm sóc hai anh em tôi không thua bất cứ một bà mẹ
mẫu mực nào trên thế gian này. Ḷng Cô lúc nào cũng " bao la như biển
Thái B́nh rạt rào", lời của cô lúc nào cũng
"tha thiết như ḍng suối hiền ngọt ngào"
mà ông nhạc sĩ Y Vân đă từng ngợi ca, vinh danh
người mẹ. Cô cũng là cô giáo vỡ
ḷng, dạy tôi hai tiếng I tờ, những câu tục ngữ
ca dao. Lớn lên một chút, tôi được Cô ngồi
bên cạnh dạy đọc truyện Chàng Nhái Kiển
Tiên, Thạch Sanh Lư Thông, Phạm Công Cúc Hoa cho bà Nội tôi
nghe mỗi tối. Mùa hè, tôi mê đá dế, Cô
dẫn tôi ra trước hồ sen t́m bắt những con dế
mun mà mỗi trưa Cô không ngủ, ngồi ŕnh để
nghe nó gáy từ chỗ nào. Thấy bọn
trẻ hàng xóm thả diều, Cô cũng ṃ mẫm cả một
ngày làm cho tôi cái diều to nhất. Tôi mê nuôi chim, Cô
đi khắp nơi t́m mua cho tôi hai con chim keo màu xanh mướt
và năn nỉ ông chú tôi làm cho tôi cái lồng
thật đẹp. Những lần bị
"ấm đầu", tôi tha hồ nũng nịu, làm
t́nh làm tội Cô tôi. Cô ngồi suốt bên cạnh,
đắp lên trán tôi một cái khăn ướt, nấu
cháo cá bỏ nhiều tiêu cho tôi ăn
để "tháo mồ hôi". Nghe nói Cô cũng ham học
lắm, định xin ông bà nội cho học xong cái bằng
primaire th́ theo ông chú tôi đi dạy học
mấy lớp nhỏ trường làng, Nhưng rồi mẹ
tôi bất ngờ qua đời, bỏ lại hai anh em tôi. Cô đành phải nghỉ học ở nhà để
chăm sóc hai thằng cháu dại, một đứa bốn
tuổi và một đứa vừa mới lên hai. Năm tháng cô quanh quẩn trong nhà, làm công việc
gia đ́nh và lo lắng cho hai anh em tôi. Khi
nào rảnh rỗi Cô nhờ ông chú của tôi chỉ cô học
thêm mấy chữ tiếng Tây.
Cô chỉ có một
người bạn thân, đó là bà cô họ của tôi. Hai
người cùng tuổi và học chung một
lớp. Khi Cô Út nghỉ học, th́ bà cô họ
này vẫn tiếp tục đi học mấy năm nữa,
sau này làm y tá và lấy một ông chồng Tây, làm trong viện
Pasteur của bác sĩ Yersin ở Nhatrang. Bà đi đó đi đây, lâu lâu trở về
thăm quê vài bữa. Lần nào về cũng
ghé lại thăm Cô Út tôi và tṛ chuyện cả đêm.
Trông bà thật sang trọng. Cô Út th́ trầm trồ
những món nữ trang đắt tiền, nhất là sợi
dây chuyền vàng có mặt ngọc thạch, thời ấy
rất hiếm hoi. C̣n tôi th́ say mê chuyện đi
đó đi đây mà bà cô họ thường kể cho cô
cháu tôi nghe.
Dường như từ
ngày bà cô họ đi theo chồng, Cô Út
không c̣n ai tâm sự, nên Cô thường tâm t́nh với anh em
tôi về chuyện t́nh duyên của ḿnh. Có một ông thầy
giáo dạy cùng trường với chú tôi, gốc B́nh Định,
khá bảnh trai, lớn hơn Cô hai tuổi, rất
thương Cô và có nhờ người đến mai mối,
nhưng Cô Út phần v́ thương cảnh mồ côi của
anh em tôi, một phần bị ám ảnh bởi những lời
đồn đăi của thiên hạ: "tuổi Dần
cao số, chỉ hạp với tuổi Dần", nên Cô
từ chối cuộc hôn nhân. Ông thầy giáo
B́nh Định buồn t́nh nên xin đổi đi xa, làm
ḷng Cô cũng xốn xang một dạo.
Năm
tôi lên bảy, quê tôi có một trận lụt lớn, trận
lụt tháng mười. Tôi nhớ loáng thoáng lời
Cô tôi giải thích, v́ "ông tha mà bà
không tha, bà cho cây lụt hăm ba tháng mười".
Nước từ đâu không biết tràn qua, kéo theo nhiều nhà cửa cây cối và cả
trâu ḅ. Nhà ông nội tôi rộng lắm, mấy cây cột lớn
có chạm trổ nhiều h́nh cầm thú, có mái ngói âm
dương và nằm trên một nền gạch khá cao,
được bao bọc bởi đủ thứ cây
ăn trái, vậy mà bây giờ chung quanh tôi chỉ thấy
toàn nước và nước. Ông Nội ra lệnh
cho Cô phải giữ kỹ anh em tôi trên bộ phản trong
nhà. Hai ngày sau mưa gió đă tạnh, nh́n qua khe cửa,
anh em tôi thấy nước ngập cả sân nhà (nhà ông bà nội
tôi có cái sân vuông khá rộng bằng xi măng, có bờ thành
thấp chung quanh), nên năn nỉ Cô Út ra bịt mấy cái
lổ lù, không cho nước rút, và đứng trên thềm
nhà canh chừng cho anh em tôi cởi truồng xuống sân
bơi lội. Bất ngờ tôi phát hiện trong sân có mấy
con cá, anh em tôi tha hồ ḥ hét rượt bắt cá. Oâng Nội
tôi nghe ồn ào, chạy ra nh́n thấy hai thằng cháu nội
đang b́ bơm trong cái sân ngập tràn nươc lũ lụt,
ông không la chúng tôi mà rầy Cô Út tôi một trận, rồi cấm
cung cô cháu tôi ở trên căn nhà thờ, lúc nào cũng
đóng kín cửa, mà trước đây rất ít khi tôi dám
tới đây, v́ rất sợ mấy cái bàn thờ có treo
những tấm h́nh và nhiều bài vị viết chữ
nho, nhất là hai cỗ quan tài sơn đỏ, có h́nh con rồng
con phương hai bên. Cô tôi bảo đó là hai chiếc quan
tài bằng gỗ quí để dành cho ông bà nội đến
lúc qui tiên.. Thấy anh em tôi sợ, Cô Út trấn an bọn tôi bằng cách kể chuyện linh
thiêng của những ông bà, tổ tiên đă khuất. Vong
linh ông bà lúc nào cũng ở bên cạnh để phù hộ
cho con cho cháu. Cô c̣n bảo nếu có ước
mơ điều ǵ, thắp hương thành tâm khấn
nguyện, ông bà sẽ ban cho những điều ước
muốn đó. Cô hỏi tôi, nếu
bây giờ khấn nguyện xin ông bà, th́ tôi sẽ mơ
ước được điều ǵ. Nhớ tới chuyện đi đó
đi đây mà tôi rất say mê mỗi lần bà cô họ có
chồng Tây kể lại, tôi nhanh nhẩu: Tôi tin lời Cô, kéo tay Cô đến trước bàn thờ thắp
hương để hai cô cháu vái lạy xin Ông bà ứng
nghiệm cho những điều mơ ước. Cô ch́u tôi, hai cô cháu qú trước bàn thờ.
Cô th́ im lặng, c̣n tôi th́ nói thật to lời
ước của ḿnh. Tôi sợ ông bà già quá, lảng tai, không nghe rơ lời cầu xin của ḿnh.
Mấy năm sau, tôi đành
phải rời quê, chia tay Cô Út vào Nha Trang đi học. Cô may cho tôi mấy bộ
đồ mới, bao nhiêu tiền dành dụm được
cô sắm cho tôi một chiếc xe đạp
có ghi đông h́nh chữ U mà tôi rất thích. Những năm
học ở Nhatrang, dù tuổi đă lớn, nhưng lúc nào
tôi cũng thấy thiếu vắng ṿng tay
và những lời tŕu mến của Cô tôi. Mỗi
lần nghỉ hè về quê, tôi vẫn quanh quẩn ở
bên Cô, như thuở mới lên ba, lên năm ngày trước.
Lúc này Cô tôi đang làm nghề thợ may, nhưng chỉ làm
việc tại nhà, để tiện việc săn sóc ông
bà nội tôi, đă đến lúc tuổi già sức yếu.
Cô tự tay may cho anh em tôi mấy bộ
đồng phục học tṛ. Mùa hè trời
nóng, tối nào cô cháu cũng mang chiếu ra trải bên cạnh
hồ sen trước nhà. Trong gió nội
hương đồng, cô cháu nằm tâm sự thâu đêm. Khi biết
tôi đi lính, Cô Út buồn ghê lắm. Hết ngăn cản rồi năn nỉ tôi. Cô bảo tôi không
thương Cô, nên bỏ Cô mà đi lính, biết bao giờ
Cô cháu mới được bên nhau như những ngày
xưa, rồi Cô biết c̣n ai để mà tâm sự. Nhớ tới trận
lụt tháng mười năm nào, Cô dạy cho tôi thắp
hương khấn nguyện ông bà, tôi thủ thỉ với
Cô:
Khi vào
quân trường, hai người đầu tiên tôi viết
thơ là Ba tôi và Cô.
Tôi kèm theo tặng Cô tấm ảnh mặc
quân phục, tóc vừa cắt ngắn ba phân. Cô viết thư khen "chú lính sữa của cô trông
oai phong ghê lắm". Mấy tuần sau khi
tôi được gắn alpha, Cô theo Ba
tôi vào tận quân trường thăm tôi, mang theo cho tôi cả
chục xoài tượng và mấy cái bánh rán (bánh cam) mà lúc nhỏ
tôi rất thèm ăn.
Ra trường,
trước khi tŕnh diện đơn vị, tôi dành trọn
mười lăm ngày phép quanh quẩn bên Ba tôi và Cô. Lúc này ông bà nội tôi
đă qua đời và cô vẫn ở vậy chăm sóc ngôi
nhà từ đường và lo việc cúng kỵ ông bà.
Đêm nào Cô cũng niệm hương khấn vái th́ thầm
trước bàn thờ ông bà nội và má tôi, rồi bảo
tôi cùng lại chấp tay lạy. Tôi nghe Cô xin ông bà và Má tôi phù hộ tôi, tránh
được lằn tên mũi đạn. Hơn
mười năm trong lính, toàn là đánh đấm. Rất nhiều lần thoát chết
trong đường tơ kẻ tóc, tôi tin vào những lời
th́ thầm khấn vái hằng đêm của Cô.
Lần đầu tiên về
phép từ một chiến trường khói lửa ở
cao nguyên, tôi dành dụm mấy tháng lương, và mất
hai ngày ở thành phố Ban Mê Thuột t́m mua cho Cô sợi
dây chuyền vàng có mặt cẩm thạch h́nh trái tim, loại
đắt nhất. Tôi ngồi chỉ cho họ
kẻ hai chữ MĐ thật đẹp chính giữa. Tôi về
bất ngờ. Khi mới bước vào cổng nhà nội, tôi thấy
Cô đang quét lá dưới gốc cây xoài. Con chó không
nhận ra tôi sủa inh ỏi, Cô dừng
tay nh́n. Măi khi tôi đến gần Cô mới
nhận ra. Cô nắm tay tôi mắng yêu: Tôi cười đùa: Buổi chiều, sau
khi cơm nước xong, tôi dắt tay Cô
tôi lên căn nhà thờ để cùng tôi thắp
hương và lạy ông bà. Khi đứng lên,
tôi bảo Cô nhắm mắt lại để thấy một
điều kỳ diệu, rồi choàng vào cổ Cô sợi
dây chuyền tôi vừa mua tặng. Lúc mở mắt
ra, Cô mân mê cái mặt cẩm thạch rồi cảm động
nắm tay tôi: Thời gian này ở quê nội tôi mất
an ninh. Ban ngày tôi quanh quẩn bên cô. Đến chiều, Cô dắt tôi xuống nhà chú
tôi ở bên huyện ngủ. Cô ở với
tôi tới tối mịt mới về. Ngày măn phép, tôi trở
lại đơn vị, Cô giặt ủi mấy bộ áo
quần của tôi xếp vào túi xách, kèm theo
một gói xôi đậu xanh, để ăn dọc
đường. Ngồi trên xe đ̣, khi
lấy gói xôi ra ăn, tôi thấy có một cái túi nhỏ may
bằng vải, mở ra tôi mới biết, một xấp
tiền mới tinh xếp ngay ngắn trong đó. Nhớ tới cô, nước mắt tôi cứ trào
ra.
Tôi theo
đơn vị lưu động nay đó mai đây, nên rất
khó nhận thư từ hộp thơ KBC hậu cứ ở
Ban Mê Thuột. Từ Quảng Đức, xuống
Lâm Đồng rồi Phan Thiết. Măi hơn nửa
năm sau tôi mới nhận được cùng một lúc
năm lá thư của Cô tôi gởi. Tôi mừng, khi Cô kể là có một ông thầy giáo
gốc Huế, cùng tuổi dần với Cô, đă có một
đời vợ, cùng làm nghề dạy học. Nhưng chỉ mới vài tháng sau đám cưới,
người vợ trẻ bị chết cùng với mấy
đứa học tṛ trong một trận pháo kích. Ông
buồn quá, một phần không muốn mỗi ngày bị
ám ảnh bóng h́nh của người vợ trẻ vừa
mới chết oan, một phần không muốn nh́n thấy
cái thành phố có những lăng tẩm uy nghi của một
triều đại, nhưng đă để lại quá nhiều
tranh chấp tôn giáo, phủ bóng mây mù chính trị lên từng
ngôi trường, từng bục giảng. Bạn bè ông có mấy
kẻ đă vào bưng. Ông xin chuyển vào dạy
ở quê tôi v́ có gia đ́nh người bác ruột, ngày
xưa làm xếp ga rồi lấy vợ ở lại
đây luôn. Tôi viết thơ cho Cô, lên mặt thuyết
giảng t́nh yêu, nào chuyện "hữu
duyên thiên lư năng tương ngộ" nào là
"cả hai người cùng một
tuổi Dần, th́ sau này tát biển đông cũng cạn". Mấy tháng sau tôi nhận thư
hồi âm của Cô, có kèm theo lá thư ngắn của ông Thầy
Huế mà nội dung là một bài thơ ngợi ca người
lính. Tôi để dành tiền
lương hằng tháng, chờ ngày về ăn
đám cưới. Tôi đến một tiệm bán hàng thêu
ở thành phố Phan Thiết đặt thêu một bức
tranh có h́nh hai con cọp âu yếm nhau trong một rừng
đầy hoa sim tím dưới ánh trăng để làm quà
cưới cho Cô. Sau trận Mậu Thân,
đơn vị tôi tiếp tục mỗi ngày sống trong
lửa đạn. Tôi không nhận được lá thư nào của Cô tôi. Tôi nghĩ chắc là
Cô đă làm đám cưới, nhưng không biết có theo chồng về thăm Huế hay không. Tôi
lo cho Cô, khi biết cả thành phố Huế đang đắm
ch́m trong vành tang trắng.
Mấy tháng sau, t́nh h́nh trở lại yên
tĩnh, được mười ngày phép, tôi khăn gói về
thăm quê. Cô tôi vẫn sống
âm thầm một ḿnh trong nhà ông nội, Đám cưới
không thành, không phải ông thầy Huế phụ t́nh, như
một vài người bà con trong họ đă cảnh giác Cô
từ lúc mới quen ông:" đừng
có quá tin mấy chàng trai xứ Huế". Oan ức và tội nghiệp cho ông. Ông về
Huế ăn Tết và xin cha mẹ được cưới
Cô tôi, nhưng rồi không ngờ phải cùng chịu chung số phận với mấy ngàn người
bất hạnh. Ông mất tích trong đêm mùng
hai Tết. Măi đến ba tháng sau, người nhà mới
t́m được xác của Ông trong một hố chôn
người tập thể. Cuối cùng th́.. Cô tôi "vẫn chưa lấy chồng!
". Trên bàn thờ, tấm
ảnh nhỏ của ông Thầy Huế được
đặt ở một góc khiêm nhường.
Năm 1975, miền Tháng 6
năm 1976, ba tôi chết trong trại cải tạo Đá
Bàn. Nhưng
măi đến năm năm sau tôi mới nhận
được tin buồn. Tôi khóc đến
không c̣n nước mắt.
Tám năm sau, tôi cũng được thả
về. Lúc này vợ tôi
không c̣n sống ở quê nội tôi, v́ không t́m ra công việc
ǵ làm, nên phải dắt theo hai đứa
con nhỏ nhất trở lại Ninh-Ḥa sống cùng ông bà
già vợ của tôi, rồi chạy được cái
"hộ khẩu" ở đây luôn. C̣n bốn
đứa con lớn th́ vẫn ở lại quê nội tôi,
nhờ cô tôi nuôi nấng. Sum họp được mới
năm hôm, thời gian chưa đủ làm quen với mấy
đứa con, mà lúc ra đi đứa nhỏ nhất c̣n nằm
trong bụng mẹ, tôi được công an
Thị Trấn Ninh Ḥa gọi lên cho biết là chính quyền
trên huyện không chấp nhận tôi tạm trú ở
đây. Tôi bị gởi trả lại trại
tù, rồi được chỉ định về "quản
chế" tại nơi sinh quán. Cuối cùng, th́ tôi cũng
trở lại trong ṿng tay của Cô tôi. Có điều bây giờ, Cô phải nuôi thằng
cháu, đă gần nửa đời người, mà bỗng
dưng trở thành vô gia cư nghề nghiệp. Ăn cơm nhà nhưng hằng ngày tôi phải
đi đắp đê, làm thủy lợi cho "nhân
dân". Cô tôi bây giờ ốm yếu, đôi
mắt buồn hiu hắt. Sau mấy
năm khóc than cho những mất mát đổi thay trong gia
tộc, Cô đă già nhiều trước tuổi. Vậy mà bây giờ c̣n phải lo gánh vác cho mấy
cha con tôi. Đă vậy, ông chú của tôi,
sau khi ở trại cải tạo về, phải dắt vợ
và hai đứa con gái đi kinh tế mới. Bà thím bị sốt rét chết hai năm trước
khi tôi về. Cứ vài hôm, ông chú phải tay dắt tay bồng đưa hai đứa
con về đây gởi cho Cô tôi. Nhiều lúc
âm thầm nh́n Cô "lưng c̣ng uốn
nặng kiếp long đong", tôi nghẹn ngào muốn
khóc, nhưng có lẽ tôi cũng không c̣n nước mắt.
Khi tính
chuyện vượt biển, tôi tâm sự xin Cô cùng đi với
chúng tôi. "Dù trôi nổi ở đâu, có cô bên cạnh là
con măn nguyện rồi", Nhưng cô bảo Cô
đă già, không muốn rời bỏ quê hương, hơn
nữa c̣n phải trông coi ngôi nhà từ đường và mồ
mả ông bà, không để cho hương tàn khói lạnh. Và c̣n phải phụ giúp ông chú tôi đang ốm
đau, lo cho hai đứa con của chú ấy nữa. Mấy ngày sau, tôi thấy
Cô xuống tóc, và ăn chay trường.
Đêm nào cũng qú trước bàn thờ.
Tôi biết là Cô đang cầu nguyện cho tôi
đi đến bến bờ. Hôm tiễn biệt, Cô
nắm chặt tay tôi: "xin ông bà và cha mẹ con phù hộ cho vợ chồng
con và mấy đứa nhỏ" rồi im lặng
nh́n tôi với hai hàng nước mắt.
Thuyền
ra đến hải phận quốc tế th́ gặp băo. Mưa gió suốt mấy
ngày, không c̣n trăng sao để mà định hướng.
Tất cả đàn bà con nít xuống dưới khoang thuyền.
Chỉ có bọn đàn ông chúng tôi ở lại
phía trên chống chọi với phong ba. Trong những
lúc nguy khốn nhất, tôi lại nghĩ đến Cô, nhớ
những lời cầu nguyện của Cô mà lấy lại
niềm tin và can đảm. Cuối cùng, một
chiếc tàu chở dầu của Vương quốc Nauy
đă cứu vớt chúng tôi trước khi cơn băo chính ập
tới. Từ trên tàu, vị thuyền
trưởng giúp chuyển hộ mỗi người ba cái
điện tín cho thân nhân. Người
đầu tiên tôi báo tin mừng là Cô. Sau khi định cư, tôi thường
xuyên gởi thư thăm Cô và kèm theo tiền
để giúp Cô cùng gia đ́nh ông chú, và xây lại mồ mả
ông bà. Cô mừng ghê lắm. Lá thư nào Cô cũng viết thật dài, khuyến
khích tôi cố gắng làm lại cuộc đời và dạy
dỗ cho con cái phải biết sống theo đạo lư và
đừng bao giờ quên quê hương, nguồn cội của
ḿnh. Cô ở xa tôi cả
ngh́n trùng mà lúc nào tôi cũng tưởng Cô vẫn đang
đâu đó bên ḿnh. Mỗi lần gặp khó khăn, phiền muộn
trên xứ người, cứ nghĩ đến Cô là ḷng
tôi phấn chấn. Bây giờ Cô đă
già và chắc cũng yếu đi nhiều lắm. Vậy mà chỉ với h́nh bóng thôi, Cô đă cho tôi
biết bao nghị lực.
Hai năm sau, tôi lại nhận được tin buồn. Ông Chú của tôi, sau bao
năm chống chọi với bệnh tật mang về từ
trại cải tạo, vừa mới ĺa đời, giao
hai đứa con gái lại cho Cô tôi nuôi nấng. Tội nghiệp cho Cô, đúng là "Trời không nín gió cho ngày Cô sinh",
tuổi già rồi mà phải c̣n cưu mang con cháu. Lá thư báo tin buồn này là lá thư cuối
cùng Cô tự tay nắn nót viết cho tôi. Những lá thư sau đó, mấy đứa con gái ông
chú tôi viết. Tôi lo lắng hỏi Cô, Cô chỉ bảo
đôi mắt của cô bây giờ hơi kém, nhưng dặn
ḍ tôi không phải gởi thuốc thang ǵ, v́ ở trong
nước Cô mua cũng được. Cô khẩn khoản
muốn tôi đưa mấy đứa con về cho Cô gặp
lại một lần.
Hơn mười năm
sau, khi nghe nhà nước có chút đổi thay, gọi những
người vượt biển có tội phản bội tổ
quốc ngày xưa là khúc ruột ngàn dặm, tôi dắt theo ba đứa con lớn về thăm quê
hương. Đúng hơn là về t́m ngôi mộ
cha tôi chôn trong núi bên trại cải tạo Đá Bàn và
thăm bà Cô suốt cả một đời bảo bọc
chúng tôi. Nhớ lại kỷ niệm xưa, tôi nhờ
cô con gái lớn ở bên Cali, đến khu Phước Lộc
Thọ t́m đặt mua cho tôi một sợi dây chuyền
vàng, có mặt màu xanh cẩm thạch, khắc hai chữ
MĐ chính giữa. Tôi nghĩ có lẽ đây
sẽ là món quà có ư nghĩa, đền bù lại sợi dây
chuyền tôi tặng Cô lúc trước, và để cho Cô
được trẻ lại những ngày xưa. Tôi không
báo trước ngày về, v́ muốn làm cho Cô bất ngờ
và không phải khăn gói vào tận Sài g̣n để đón
cha con tôi, như lời cô hứa.
Quê nội
tôi, cái làng Phú Hội một thời trù phú như cái tên gọi,
bây giờ sao mà cằn cỗi, điêu tàn. Khi bước vào cổng
nhà nội, tôi xa lạ đến thẩn thờ. Ngôi nhà ngày xưa rộng lớn, hồi c̣n nhỏ
tôi đi c̣n sợ lạc, sao bây giờ nhỏ nhoi, tiêu điều
và hiu quạnh quá. Tôi đứng giữa cái sân gạch
mà ngày nào trời lụt, anh em tôi tha hồ bơi lội
như trong một ḍng sông, bây giờ chỉ c̣n lại cái nền
loang lổ, phủ đầy những lá của cây xoài già
héo úa, một thời xum xuê làm "bóng mát thiên đường"
để Cô cháu tôi ngồi đọc truyện cho bà nội
tôi nghe trong những buổi trưa hè. Cái hồ sen tỏa
hương thơm ngát ngày xưa, bây giờ
là một cái ao cạn đầy cỏ dại. Chỉ c̣n lại tiếng dế than rên rỉ.
Không nghe con chó sủa. Nó là con vật trung thành, không giống
như một số người sau tháng tư năm nào, phản
suy phù thịnh. Có lẽ nó cũng buồn mà
chết rồi sau cuộc đổi đời của chủ. Tôi và ba đứa con
lạc lơng trong ngôi nhà mà tất cả đă từng một
thời lớn lên ở đó, với biết bao là kỷ
niệm buồn vui. Trong nhà không có một ai,
ngoài bóng dáng của chính ḿnh ngày trước. Bước
ra cửa sau, tôi đứng lặng người khi thấy
Cô Út ngồi quay lưng, văi thức ăn
cho một bầy gà. Mái tóc Cô bạc trắng.
Cha con tôi đến đứng phía sau lưng, mà Cô không biết.
Mấy đứa con tôi
cười khúc khích, Cô quay lại. Tôi ôm chầm
lấy cô, nghẹn ngào không nói nên lời. Tôi ngạc
nhiên khi nghe cô hỏi: đứa nào đây?.
Chẳng lẽ mới mười năm mà cô
không c̣n nhận ra tôi. Buông cô ra, tôi suưt hét
lên, khi biết là đôi mắt của Cô đă mù. Tôi chỉ thốt lên được mấy tiếng
"Cô ơi, thằng Ninh đây Cô",
rồi khóc nức nở. Sau một khắc yên lặng, tôi nghe Cô
cười, rồi đưa hai tay sờ
lên đầu lên mặt tôi, rồi đến mấy đứa
con tôi. Tôi d́u Cô vào
nhà. Nhưng
cô bảo là cô đi được. Cô
nói là cả một đời cô ở đây, mọi ngơ
ngách và đồ đạc trong nhà như in trong trí.
Tôi hỏi mấy đứa con ông chú đâu mà để cô
ở một ḿnh. Cô cho biết là nhờ dành dụm số
tiền tôi gởi về, đứa lớn đă ra nghề
thợ may, vừa lấy chồng, mở tiệm ở
dưới huyện. C̣n đứa nhỏ, Cô
cho đi học làm y tá, vẫn c̣n ở với Cô. Thấy chúng tôi về,
mấy người hàng xóm sang thăm. Ai cũng nhắc lại
cái thời anh em tôi c̣n bé và ca ngợi Cô tôi hết lời. Không biết ai nhắn tin, hai cô em, con ông chú tôi cũng
về ngay, có cả thằng em rể. Sau
này tôi mới biết nó chính là cháu họ của ông thầy
giáo Huế, người t́nh của Cô Út ngày xưa. Có sẵn chiếc taxi
thuê bao, tôi mời Cô và mấy đứa em xuống phố
ăn cơm, nhưng Cô không cho, bảo hai đứa em con
ông chú làm thịt mấy con gà để mấy cô cháu vừa
ăn vừa nói chuyện cho vui.
Cả một
tuần sau, tôi bận rộn lo việc cải táng phần
mộ của ba tôi từ Đá Bàn về chôn trong nghĩa
trang gia tộc, bên cạnh ngôi mộ của má tôi và ông bà nội. Cô Út theo ra đến
tận nghĩa trang, đưa tay sờ ngôi mộ mới
xây của ba tôi, rồi khóc sụt sùi. Hai tuần
sau, tôi quanh quẩn bên cạnh cô tôi, kể lại hầu hết
những kỷ niệm ngày xưa, và cuộc sống ở
xứ người. Cô bảo
có lần nằm chiêm bao, cô thấy ông thầy Huế về
thăm Cô, nhưng người ông bê bết máu, Cô lấy
khăn lau măi mà máu vẫn cứ ứa ra. Đêm
nào trước khi đi ngủ, Cô cũng bảo cha con tôi
thắp hương và lạy trước bàn thờ. Tôi lại nhớ tới
những điều cô cháu tôi ước mơ thuở
trước.
E dè măi,
đến đêm cuối cùng, khi đứng trước
bàn thờ, tôi lấy sợi dây chuyền vàng có mặt cẩm
thạch ra, đeo vào cổ cho Cô. Tôi ôm chặt Cô th́ thầm: "xin cho
con trả lại Cô cái điều mà ngày xưa cô mơ
ước". Ba đứa con tôi vỗ tay phụ họa:
"đẹp lắm ! bà
Nội ơi, đẹp lắm!"
Cô tôi
không mân mê cái mặt cẩm thạch như lần trước,
cách đây hơn bốn mươi năm, khi tôi tặng
Cô, mà chỉ đứng lặng im, bất động. Tôi biết, trong đôi mắt mù ḷa kia,
dù không c̣n thấy cái mặt cẩm thạch màu xanh có khắc
hai mẫu tự tên ḿnh, nhưng Cô tôi đang nh́n thấy cả
một quá khứ xa xăm, bao la và sâu thẳm như chính tấm
ḷng Cô. Cuối cùng th́ tôi cũng
phải chia tay Cô, bỏ lại đằng
sau dấu tích của cả một phần đời, mà tất
cả vui buồn bây giờ đều đă trở thành kỷ
niệm, nằm sâu chôn chặt tận đáy ḷng. Tôi nghĩ, có lẽ đây là lần cuối cùng
tôi gặp Cô.
Dắt ba đứa con
bước ra khỏi cổng nhà ông Nội, tôi không dám quay
đầu nh́n lại. Một câu hỏi chợt lóe lên trong
đầu: Rồi mai này, tôi lại tiếp tục lưu
lạc tha phương. Cũng như sợi dây chuyền mặt
cẩm thạch tôi vừa mới tặng cho Cô tôi, liệu
cái việc đi đó đi đây trên xứ lạ quê
người của tôi, có c̣n là những điều mà Cô
cháu tôi đă từng một thời mơ ước? Phạm
Tín An Ninh
|